Đáng chú ý, có 1 cá nhân được Chi cục Thuế khu vực quận 7 - Nhà Bè kiểm tra và xử lý truy thu hơn 31 tỷ đồng. Lãnh đạoCục Thuế TP. Hồ Chí Minh cho biết thêm qua thanh tra một công ty đối tác của nhà cung cấp nước ngoài Google tại Việt Nam làm nhiệm vụ quản lý các kênh 1. Ngành Kinh tế số- Kinh doanh kỹ thuật số là gì. Theo từ điển Oxford, kinh tế số là "một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet. Kinh tế số hiện diện trên tất cả các lĩnh vực và nền Ông Lê Hồng Minh: Thực sự kinh doanh Nội dung số ở Việt Nam rất khó khăn, và VNG cũng không ngoại lệ. Như trong bài "Cấu trúc và vị thế cạnh tranh trong ngành Nội dung Số" vừa qua trong hội thảo "Hiện trạng ngành Công nghiệp Nội dung số", tôi đã từng chia sẻ: Các doanh nghiệp nội dung số trong nước đang đối diện những thách thức rất lớn trên thị trường cạnh tranh. Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê. tìm thấy 56,758 hồ sơ doanh nghiệp | trang 1809. 2601008303 - CÔNG TY TNHH TÂY NAM THÀNH. Mã số thuế: 2601008303 - Đại diện pháp luật: Mai Chí Công Địa chỉ: Số 52 phố Lê Quý Đôn, Doanh số = Đơn giá bán x Sản lượng. Ví dụ tính doanh số. Một công ty ABC kinh doanh sản phẩm điện thoại, trong tháng 5/2018 công ty bán được 20 điện thoại. Tính doanh số bán hàng trong tháng biết rằng mỗi sản phẩm có giá tiền là 100.000(vnd). Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Đề cương chi tiết học phần Tên học phần Kinh doanh số Digital Business Mã học phần Khoa/Viện DBZ306 Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Bộ môn phụ trách Kinh doanh quốc tế MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN Môn học Kinh doanh số giúp trang bị những kiến thức lí luận và thực hành cơ bản liên quan hoạt động kinh doanh trong môi trường số và các nền tảng công nghệ thông tin. Sau khi hoàn thành môn học, sinh viên có thể vận dụng những kiến thức cơ bản về kinh doanh và ứng dụng công nghệ trong kinh doanh để xây dựng chiến lược kinh doanh, tạo lập mô hình kinh doanh, đổi mới để cạnh tranh và tăng trưởng cho doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu. Học phần Phát triển kinh doanh số trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ cho sinh viên trở thành công dân của nền kinh tế số toàn cầu với những nội dung cơ bản, bao gồm 1 Phân tích hoạt động kinh doanh với các vấn đề môi trường, chiến lược và phương thức thâm nhập thị trường trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông minh; 2 Vận dụng được các nguyên lí và mô hình kinh doanh điện tử trong nền kinh tế số; 3 Phát triển năng lực đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh song hành với những tiến bộ của công nghệ thông tin; 4 Phân tích các yếu tố môi trường bên trong và ngoài doanh nghiệp liên quan tới hoạt động kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa, từ đó xây dựng và thực thi chiến lược, kế hoạch, mục tiêu kinh doanh và quản trị rủi ro trong hệ sinh thái kinh doanh số 5 Vận dụng kiến thức và kỹ năng thực hành đạo đức trong kinh doanh số; 6 Vận dụng kiến thức và kỹ năng thực hành nghiệp vụ kinh doanh số, ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành chuỗi giá trị bao gồm sản xuất, thuê ngoài và hậu cần; quản trị nguồn nhân lực toàn cầu. Môn học sử dụng nhiều tình huống thực tiễn về phát triển kinh doanh trên nền tảng công nghệ số của các doanh nghiệp trên thế giới nhằm làm rõ những vấn đề lý thuyết kinh doanh và công nghệ số cũng như giá trị tích hợp kinh doanh số đối với sự phát triển của doanh nghiệp. NỘI DUNG HỌC PHẦN STT Chương Phương pháp tổ chức dạy học Số tiết trên lớp Tiểu luận, bài tập lớn Tự học có hướng dẫn Lý thuyết Thực hành, thảo luận 1. Chương 1 Giới thiệu về Kinh doanh số 3 0 0 6 2. Chương 1 Giới thiệu về Kinh doanh số tiếp 2 1 3 3. Chương 2 Hệ sinh thái kinh doanh số 2 1 0 4. Chương 2 Hệ sinh thái kinh doanh số tiếp 3 0 3 6 5. Chương 3 Môi trường số và Chuyển đổi kĩ thuật số 3 0 0 6 6. Chương 3 Môi trường số và Chuyển đổi kĩ thuật số tiếp 2 1 3 7. Chương 4 Phân tích Kinh doanh số 3 0 0 6 8. Chương 4 Phân tích Kinh doanh số tiếp 3 0 3 6 9. Chương 5 Chiến lược Kinh doanh số 2 1 0 10. Chương 5 Chiến lược Kinh doanh số tiếp 2 1 3 11. Kiểm tra giữa học phần 0 3 0 12. Chương 6 Đổi mới mô hình kinh doanh số 3 0 0 6 13. Chương 6 Đổi mới mô hình kinh doanh số tiếp 2 1 3 14. Các bài giảng và thực hành chuyên môn Sáng tạo giá trị với các mô hình kinh doanh số 0 3 15. Các bài giảng và thực hành chuyên môn Sáng tạo giá trị với các mô hình kinh doanh số tiếp 0 3 3 Tổng cộng 30 15 PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ - Thang điểm 10. - Các thành phần đánh giá Hình thức Nội dung đánh giá Tiêu chí đánh giá Trọng số Đánh giá quá trình Chuyên cần - Theo nội dung các buổi học Số lần có mặt trên lớp + tham gia vào bài học 10% Kiểm tra thường xuyên, giữa kỳ Kiến thức tổng hợp các nội dung đã học/ Kiến thực lí luận và thực tiễn trong lĩnh vực - Nội dung Những vấn đề đã được học - Câu hỏi bao gồm các câu hỏi lý thuyết và câu hỏi tình huống Kiểm tra lí thuyết + tự luận 45’ Trả lời đúng các câu hỏi lý thuyết 7 điểm Phân tích tốt các câu hỏi tình huống 3 điểm Tổng điểm 10 điểm 30% Tiểu luận * Yêu cầu chung - Tham gia sinh hoạt nhóm đầy đủ các nhóm báo cáo về tình hình tham gia của mỗi thành viên và đánh giá mức độ tham gia - Tìm hiểu nghiêm túc về nội dung và kiến thức liên quan đến chủ đề thuyết trình, chuẩn bị slides. Slides trình bày ngắn gọn. - Thực hành thuyết trình trong nhóm. Tất cả các thành viên đều tham gia thuyết trình và viết báo cáo. Thành viên nào không tham gia không được tính điểm. * Yêu cầu về trình bày đối với bài báo cáo nhóm - Thuyết trình thời gian thuyết trình 20-25 phút/nhóm. Thuyết trình ít hơn hoặc nhiều thời gian hơn sẽ bị trừ 10% tổng số điểm. - Trang phục lịch sự, trang trọng. Thuyết trình không cầm giấy hoặc thiết bị khác. - Bài báo cáo nhóm Bài viết trình bày những nội dung liên quan đến chủ để thuyết trình. Báo được trình bày trên khổ giấy A4; cỡ chữ 14; font Times New Roman hoặc VnTime; kích thước các lề trên, dưới, trái, phải theo thứ tự 2cm; dãn dòng lines. - Báo cáo có độ dài 25-30 trang. * Tiêu chí đánh giá bài tập nhóm tính trung bình hai tiêu chí thuyết trình và báo cáoThuyết trình Nội dung thuyết trình tốt 3 điểm Hình thức trình bày tốt 2 điểm Kĩ năng thuyết trình tốt 2 điểm Thời gian thuyết trình theo quy định2 điểm Thảo luận câu hỏi 1 điểm Tổng 10 điểm Thuyết trình Bài báo cáo nhóm Nội dung bài viết tốt 6 điểm Hình thức trình bày tốt 3 điểm Độ dài bài báo cáo theo quy định 1 điểm Tổng 10 điểm 30% Điểm thưởng Đánh giá quá trình và nỗ lực của sinh viên; Sinh viên tích cực tham phát biểu ý kiến và phát biểu có chất lượng hoặc trả lời từ 3 lần trở lên/ học phần sẽ được tính điểm khuyến khích. 03 lần phát biểu = điểm giữa kỳ/thuyết trình hoặc điểm cuối kỳ, thang điểm 10 mỗi lần trả lời đúng được tính là 0,2 điểm Giữa kỳ hoặc điểm cuối kỳ Đánh giá tổng kết Thi hết học phần Kiến thức tổng hợp bao gồm lí thuyết và thực hành - Hình thức Bài thi viết - Nội dung Những vấn đề đã được học - Câu hỏi bao gồm các câu hỏi lý thuyết và câu hỏi tình huống Bài kiểm tra lý thuyết + tự luận 60’ -90’ Trả lời đúng các câu hỏi lý thuyết 7 điểm Phân tích tốt các câu hỏi tình huống 3 điểm 60% Trong 5 năm gần đây, sự xuất hiện đa dạng các nền tảng số đã làm thay đổi thói quen, hành vi của người sử dụng. Sáng tạo nội dung số đã trở thành một sân chơi mới với các nhà sản xuất, các nhãn hàng và các doanh nghiệp quảng cáo số, đồng thời cũng có nhiều thách thức trong quá trình triển khai, đặc biệt là vấn đề bản quyền và kinh doanh quảng cáo số. Nhiều vấn đề được trao đổi tại diễn đàn "Sáng tạo nội dung số, bảo vệ bản quyền số và quảng cáo số" - Ảnh VGP/HM Tại Diễn đàn "Sáng tạo nội dung số, bảo vệ bản quyền số và quảng cáo số" do Hội Truyền thông số Việt Nam, Liên minh Sáng tạo nội dung số DCCA phối hợp cùng một số đơn vị tổ chức ngày 24/4, ông Tạ Mạnh Hoàng, Chủ tịch Liên minh Sáng tạo nội dung số Việt Nam đã chia sẻ về những cơ hội, thách thức và kinh nghiệm để sản phẩm nội dung số Việt Nam có thể chinh phục thị trường quốc tế. Cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nhận định về cơ hội cho các doanh nghiệp nội dung số Việt Nam, ông Tạ Mạnh Hoàng cho biết, tính đến tháng 1/2023, nước ta có 77,93 triệu người dùng Internet, tương đương 79,1% tổng dân số, tăng 5,3 triệu người sử dụng so với năm 2022. Số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu kết nối, tương đương với 164% tổng dân số, tăng 4,7 triệu so với năm 2022. Số người sử dụng mạng xã hội là 70 triệu người tương ứng với 71% dân số Việt Nam, trong đó 68% người trên 18 tuổi sử dụng mạng xã hội. Sự phát triển của các nền tảng xuyên biên giới đã mở ra một thế giới phẳng, cho phép các nhà sáng tạo nội dung số tiếp cận với người dân một cách dễ dàng hơn. Tại Việt Nam, có 66,2 triệu người dùng Facebook; 63 triệu người dùng Youtube; 10,3 triệu người dùng Instagram; 49,86 triệu người dùng Tik Tok, với khoảng 2 triệu thuê bao Netflix. Hành vi tiêu dùng số cũng có sự dịch chuyển đáng kể, 4 xu hướng ảnh hưởng mạnh mẽ tới hành vi tiêu dùng số như Mua sắm trên mạng xã hội; trải nghiệm thực tế ảo 75% người dùng cho biết thực tế ảo làm gia tăng trải nghiệm trực tuyến của họ; social video 90% người dùng tương tác với video sau khi xem; trí tuệ nhân tạo hơn 100 triệu người sử dụng Chat GPT sau 2 tháng. Thị trường phim hoạt hình trên toàn cầu cũng tăng trưởng ngoạn mục, ước đạt 391,19 tỷ USD năm 2022 và dự kiến lên tới 587,1 USD vào năm 2030, với tỉ lệ tăng trưởng hằng năm 5,2%... Bên cạnh đó, Việt Nam còn có lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, với khả năng tiếp cận công nghệ nhanh và tính sáng tạo cao. Nhiều trường tham gia đào tạo thiết kế đồ họa, truyền thông đa phương tiện... Ông Tạ Mạnh Hoàng chia sẻ về những cơ hội, thách thức và kinh nghiệm để sản phẩm nội dung số Việt Nam có thể chinh phục thị trường quốc tế. Ảnh VGP/HM Thách thức và khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, ông Tạ Mạnh Hoàng cũng nêu ra những thách thức, khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam. Trước tiên có thể kể đến là mô hình kiếm tiền nhanh phổ biến ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu mang tính tự phát và tính rủi ro cao. Số lượng các doanh nghiệp startup nhiều nhưng quy mô nhỏ và thời gian tồn tại ngắn. Đến hết năm 2022, Việt Nam có khoảng startup, đứng thứ 54 trong hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, nhưng chỉ 50% startup tồn tại sau 5 năm hoạt động. Doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh yếu dễ bị tổn thương khi ra nhập thị trường quốc tế. Trường hợp một doanh nghiệp lớn nước ngoài đã lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ để tranh chấp bộ nhân vật hoạt hình, một số doanh nghiệp game Việt Nam cũng bị vướng vào kiện tụng sở hữu trí tuệ từ các công ty nước ngoài. Ông Hoàng cũng chia sẻ, doanh nghiệp Việt Nam chưa có các sản phẩm thực sự nổi bật tạo tiếng vang lớn trên thế giới nhằm tạo ra sự nhận biết của khách hàng, đối tác, dẫn tới thiếu cơ hội kinh doanh và giá trị nguồn lao động chưa cao. Nhận thức của người dùng sản phẩm nội dung số chưa cao, dễ bị lôi kéo vào các sản phẩm tiêu cực không mang nhiều giá trị, chưa tôn trọng bản quyền. "Sự phát triển quá nhanh của các loại hình nội dung cũng khiến chúng ta chưa có các mục tiêu và chiến lược tổng thể kịp thời để hỗ trợ phát triển ngành nội dung số", ông Tạ Mạnh Hoàng nhấn mạnh. Giải pháp để chinh phục thị trường quốc tế Với những điểm mạnh và điểm yếu trên, ông Tạ Mạnh Hoàng cũng chia sẻ về kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển của một đơn vị sáng tạo nội dung cho thị trường quốc tế. Theo lãnh đạo Liên minh Sáng tạo nội dung số Việt Nam, doanh nghiệp nội dung số Việt Nam nên nghiên cứu và vận dụng mô hình phát triển thành công của các doanh nghiệp Mỹ, Nhật, Hàn Quốc. Phát triển mô hình phát triển sản phẩm IP tài sản sở hữu trí tuệ đa dạng dòng sản phẩm, đa dạng nền tảng kinh doanh, đa ngành kinh doanh, kiên trì chinh phục từng dòng sản phẩm, nền tảng kinh doanh, mảng kinh doanh từ thị trường trọng tâm mở rộng ra toàn thế giới, xây dựng mô hình kinh doanh bền vững cho doanh nghiệp Việt Nam, bước chuyển từ mô hình kiếm tiền nhanh sang mô hình phát triển bền vững. Đồng thời, liên tục nâng cao năng lực phát triển của doanh nghiệp, tăng cường giao lưu liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp cùng mảng trong nước và quốc tế, tham dự các triển lãm, hội chợ cùng mảng quốc tế, tiếp cận và học hỏi các mô hình quản trị hiện đại, các công nghệ mới, tuyển dụng và bồi dưỡng phát triển đội ngũ chuyên gia trong mảng… Trong khuôn khổ sự kiện cũng đã diễn ra Triển lãm trưng bày các sản phẩm, giải pháp tiêu biểu của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nội dung số trong nước và quốc tế. Hội Truyền thông số Việt Nam cũng đã ra mắt Trục bản quyền số quốc gia - nền tảng kết nối các nhà sản xuất nội dung, nhà công nghệ, nhà quảng cáo, cơ quan quản lý Nhà nước, các nền tảng công nghệ... trong việc bảo vệ bản quyền số. “Kinh doanh số đang làm thay đổi cách tổ chức sử dụng và suy nghĩ về công nghệ, chuyển công nghệ từ một công cụ hỗ trợ sang ưu tiên hàng đầu về đổi mới, tăng trưởng doanh thu và thị trường”. Kinh doanh số là gì? Kinh tế số là nền kinh tế dựa trên công nghệ kỹ thuật số Làn sóng chuyển đổi số ngày càng khẳng định được sức ảnh hưởng của mình trong thời đại mới khi mà các tổ chức, doanh nghiệp đều đang ứng dụng nó vào việc tái cơ cấu, thay đổi bộ máy hay tạo “sức bật” trên thị trường. Áp dụng chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp chuyển đổi từ doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số. Các doanh nghiệp số sử dụng công nghệ để tạo ra những thay đổi mới cho các mô hình kinh doanh, trải nghiệm khách hàng và nâng cao hiệu suất hoạt động và giá trị cốt lõi cho doanh nghiệp. Cùng với các thuật ngữ chuyển đổi số hay doanh nghiệp số, kinh tế số cũng là cụm từ thường xuyên được nhắc đến trong giai đoạn này. Kinh tế kỹ thuật số hay còn gọi là kinh tế mới, kinh tế Internet là nền kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số. Kinh tế kỹ thuật số được đan xen với nền kinh tế truyền thống tạo ra một miêu tả rõ ràng hơn. Xem thêm Thực tế ứng dụng CNTT tại các ngành Tăng trưởng kinh tế số Kinh tế số đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Ngày nay, người dùng đang chi nhiều tiền hơn trên mạng. Điều này đã chuyển trọng tâm kinh doanh của nhiều doanh nghiệp sang các kênh kỹ thuật số. Sự phát triển của chuyển đổi số và nền kinh tế số đã giúp mọi người dần quen thuộc hơn với các sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật số. Người dùng cũng bắt đầu chuyển sang sử dụng các hình thức mua sắm mới. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp số bắt đầu tìm kiếm được nhiều lợi thế hơn khi kinh doanh trên môi trường Internet. Các kênh bán hàng trực tuyến đang ngày càng phát triển. Theo Acckey “Các doanh nghiệp số tạo ra lợi thế cạnh tranh dựa trên sự kết hợp độc đáo giữa nguồn lực kỹ thuật số và cửa hàng truyền thống. Họ làm những điều mà người khác không thể nhờ vào việc tạo ra lợi thế so sánh” Các yếu tố chung của một doanh nghiệp số Theo Gartner, kinh doanh số là việc tạo ra những chuỗi giá trị mới và cơ hội kinh doanh mà các doanh nghiệp truyền thống không thể cung cấp. Kinh doanh số đặt ra những chuỗi giá trị mới cho doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp số phù hợp với một hoặc cả hai điểm này họ tập trung vào việc tạo ra giá trị mới cho hoạt động kinh doanh của họ hoặc họ sử dụng công nghệ số để thúc đẩy tăng trưởng, doanh thu và hiệu suất theo những cách không thể với các mô hình truyền thống. Điều này có thể giúp doanh nghiệp xem xét các yếu tố phổ biến của kinh doanh số và so sánh chúng với các mô hình kinh doanh truyền thống. Dưới đây là một số xu hướng phân biệt kỹ thuật số với các quy trình truyền thống. • Sử dụng các công nghệ hiện có để cắt giảm chi phí, thu thập dữ liệu và cung cấp trải nghiệm khách hàng tốt hơn. Các doanh nghiệp số tập trung vào các lợi thế cạnh tranh mà công nghệ mang lại cho họ, cho dù đó là giảm chi phí hay cung cấp giá trị mới cho khách hàng. • Nắm bắt khái niệm về chuyển đổi số và yêu cầu về sự thay đổi văn hóa trong doanh nghiệp. Việc triển khai và quản lý các dịch vụ kỹ thuật số có thể đòi hỏi phải tái cấu trúc tổ chức, đặc biệt là khi các vai trò mới được tạo ra và CNTT được đưa vào đầu vào nhiều hơn vào các quyết định chiến lược. • Khám phá các mô hình kinh doanh mới đặt trải nghiệm của khách hàng vào trung tâm của chiến lược chuyển đổi số . Người dùng ngày nay thường sẵn sàng chi nhiều hơn cho trải nghiệm khách hàng. Điều này làm cho nó trở thành điểm khác biệt chính trong nền kinh tế số. Các doanh nghiệp từ đó cũng sẽ tập trung cao độ vào việc nâng cao trải nghiệm của khách hàng khi họ sử dụng các dịch vụ số. Sự khác nhau giữa kinh doanh số và kinh doanh điện tử Kinh doanh kỹ thuật số khác với kinh doanh điện tử ở chỗ kinh doanh điện tử thường giữ nguyên các mô hình kinh doanh hiện tại, chỉ sử dụng công nghệ để đạt được hiệu quả hoặc loại bỏ các dư thừa. Ví dụ như việc khách hàng điền vào mẫu đơn xin thẻ tín dụng trực tuyến sẽ giảm hiệu quả của quy trình đăng ký giấy, nhưng nó không mang lại trải nghiệm mới hay khác biệt. Sự khác nhau giữa kinh doanh số và kinh doanh điện tử Ngược lại, kinh doanh kỹ thuật số tập trung nhiều hơn vào cách công nghệ cho phép các công ty tạo ra giá trị và trải nghiệm mới giúp phân biệt các công ty và mang lại cho họ lợi thế cạnh tranh so với các đồng nghiệp. Một số ví dụ về mô hình kinh doanh số có thể kể đến như Uber tận dụng việc áp dụng rộng rãi điện thoại thông minh và sử dụng mô hình kinh doanh cho phép họ duy trì tài sản vốn tương đối thấp. Một công ty taxi truyền thống phải sở hữu và bảo dưỡng phương tiện, cũng như đóng góp chi phí để tuyển dụng và quản lý nhân viên; một phiên bản kinh doanh điện tử sẽ cho phép khách hàng lên lịch taxi trực tuyến và có thể xem các chuyến đi trong quá khứ, nhưng trải nghiệm thiết yếu sẽ vẫn như cũ. Uber đặt vị trí của mình như một doanh nghiệp số bởi vì, cốt lõi của nó là một nền tảng kết nối mọi người và tài xế ở quy mô lớn thông qua internet, đồng thời tạo ra trải nghiệm cải thiện những gì trước đây có sẵn cho mọi người. Netflix là một ví dụ điển hình về một công ty chuyển từ kinh doanh điện tử sang kinh doanh kỹ thuật số. Ban đầu, Netflix đã sử dụng công nghệ để quản lý hệ thống kiểm kê và gửi DVD cho mọi người, cung cấp trải nghiệm thuận tiện hơn, nhưng cuối cùng khá giống với các cửa hàng cho thuê phim. Tuy nhiên, một khi nó cung cấp cho khách hàng tùy chọn truyền phát video theo yêu cầu, nó đã tự phá vỡ và biến đổi cách mọi người xem phim và phương tiện truyền hình. Khả năng tiêu thụ phim và chương trình TV bất cứ lúc nào hoặc bất cứ nơi nào là không thể nếu không có truy cập internet rộng rãi mà hầu hết người tiêu dùng có ngày nay. Disney là một trong những doanh nghiệp truyền thống đã áp dụng công nghệ kỹ thuật số để tăng cường trải nghiệm trong các công viên chủ đề của nó. Các mục tiêu của MagicBand của nó , một wristband sử dụng RFID và đài phát thanh để kết nối với các cảm biến trong công viên, là để cải thiện năm yếu tố quan trọng mà là một phần của tất cả các kinh nghiệm Park đi sự hấp dẫn, tạm trú tại một khách sạn, ăn tối tại nhà hàng, chụp ảnh và gửi cho bạn bè hoặc gia đình, và mua hàng hóa làm kỷ niệm. Khách nhận được MagicBand một vài tuần trước chuyến thăm và có thể sử dụng nó để vào công viên, mua thực phẩm hoặc hàng hóa, các điểm tham quan dự trữ và xem dữ liệu thời gian thực về thời gian chờ đợi. Vào cuối ngày, khách có một trải nghiệm di chuyển trôi chảy giữa kỹ thuật số và vật lý. Có thể bạn quan tâm 5 Sai lầm khiến doanh nghiệp thất bại trên đường đua chuyển đổi số Nội dung số là gì? Công nghiệp và kinh doanh nội dung số? Sự cần thiết của công nghiệp nội dung số đối với doanh nghiệp? Công nghiệp nội dung số được biết đến chính là ngành kinh tế có tính trí tuệ cao, lợi nhuận lớn. Đây cũng được xem là phương tiện giúp đi đến xã hội thông tin, kinh tế tri thức. Ngoài ra, công nghiệp nội dung số còn là giải pháp ứng dụng của lĩnh vực công nghệ thông tin tạo các chương trình trực tuyến và nó cũng đã giúp cho các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trực tuyến. Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại Nội dung số hiện nay chính là ngành công nghiệp còn non trẻ trên thế giới nói chung cũng như tại Việt Nam nói riêng. Tuy nội dung số có nhiều tiềm năng phát triển nhưng bởi do nội dung số có tính da dạng, linh hoạt và tính mở cao trong sản xuất và phân phối nội dung mà từ đó đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều khó khăn trong quản lý nhà nước cũng như nhìn nhận của xã hội, những năm gần đây ngành nội dung số của Việt Nam cũng có phần chững lại và có chiều hướng chuyển dịch sang các doanh nghiệp nước ngoài. Khái niệm về nội dung số Nội dung số trong giai đoạn hiện nay là khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm nội dung số. Về cơ bản, ta hiểu nội dung số được định nghĩa chính là bất kỳ loại nội dung nào tồn tại dưới dạng dữ liệu số. Nội dung số cũng sẽ có thể được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ kỹ thuật số hoặc thiết bị lưu trữ kỹ thuật tương tự ở các định dạng cụ thể. Các hình thức của nội dung số trong giai đoạn hiện nay sẽ bao gồm các thông tin được phát sóng quảng bá, truyền phát trên mạng bằng công nghệ số hoặc chứa trong các tập tin máy tính. Cũng xuất hiện các ý kiến cho rằng, nội dung số chính là các dữ liệu hoặc các sản phẩm thông tin được cung cấp ở định dạng kỹ thuật số như là một chuỗi các số 0 và 1 mà chúng có thể được đọc bằng máy tính và đưa ra các chỉ lệnh cho máy tính. Nội dung số bao gồm nhạc số, phần mềm, các bộ phim được truyền phát qua mạng, sách điện tử, game online và các ứng dụng. Phương thức cung cấp các nội dung số trên thực tế cũng rất đa dạng, nội dung số có thể được tải hoặc truyền phát qua Internet, gửi qua email hoặc qua các phương thức khác như cung cấp qua phương thức vật lý ví dụ như đĩa DVD hoặc tích hợp vào các sản phẩm khác ta đưa ra ví dụ cụ thể như như xe ô tô với hệ thống dẫn đường. Nội dung số đang được quan tâm trong ngành công nghệ thông tin hiện nay. Theo Việt Nam, nội dung số chính là ngành giao thoa giữa 3 nhóm ngành Công nghệ thông tin, viễn thông và sản xuất nội dung. Trong đó, công nghiệp nội dung số gồm nhiều lĩnh vực như Tra cứu thông tin, dữ liệu số, nội dung giáo dục trực tuyến. Và cả phát triển nội dung cho mạng di động, giải trí số, thương mại điện tử,… Chúng ta vẫn có thể hiểu đơn giản cụm từ này bằng một cách khác. Đó là sự chuyển đổi Nội dung Content thành Số Digital thì được gọi là Nội dung số. Nội dung số trong tiếng Anh là Digital Content. 2. Công nghiệp và kinh doanh nội dung số Tìm hiểu về ngành công nghiệp nội dung số Xét về lý luận và thực tiễn, việc các quốc gia thực hiện triển khai sản xuất, cung cấp và kinh doanh các dịch vụ nội dung số ở mức chuyên sâu và đạt được quy mô lớn thì sẽ hình thành nên ngành công nghiệp nội dung số. Tại hội thảo “WTO – cơ hội và thách thức cho công nghiệp công nghệ thông tin – truyền thông Việt Nam” năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cho rằng “Công nghiệp nội dung số CNNDS là ngành giao thoa giữa 3 nhóm ngành công nghệ thông tin CNTT, viễn thông và ngành sản xuất nội dung. Công nghiệp nội dung số là ngành thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số và dịch vụ liên quan. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực như tra cứu thông tin, dữ liệu số, giải trí số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tập điện tử, thư viện và bảo tàng số, phát triển nội dung cho mạng di động, giải trí số trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác, thương mại điện tử…”. Các sản phẩm nổi bật của ngành công nghiệp nội dung số được đề cập và biết đến nhiều tại Việt Nam cụ thể mà chúng ta có thể kể đến đó chính là các sản phẩm về game, âm nhạc, hình ảnh, tin tức điện tử, mạng xã hội, nội dung cho các mạng di động, quảng cáo internet, thương mại điện tử, thanh toán điện tử… Thực trạng ngành công nghiệp nội dung số hiện nay Ngày 10/6, Hội đồng thành viên EVN ban hành nghị quyết triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm điện, các giải pháp đảm bảo cung ứng điện mùa khô năm 2023 và thời gian tới. Hội đồng thành viên EVN giao Tổng giám đốc chỉ đạo các ban, đơn vị khẩn trương triển khai thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 517/CĐ-TTg ngày 6/6/2023, Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 8/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ và Mục Thông báo số 216/TB-VPCP. EVN đang chịu nhiều sức ép do thiếu điện ở miền Bắc. Đối với việc chuẩn bị báo cáo và các hồ sơ, tài liệu kèm theo để phục vụ làm việc với Đoàn thanh tra chuyên ngành của Bộ Công Thương về quản lý và cung ứng điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng giám đốc quyết định và chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo và cung cấp các hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của Đoàn thanh tra. Theo Quyết định số 1377/QĐ-BCT ngày 8/6/2023 của Bộ trưởng Bộ Công Thương, Đoàn thanh tra chuyên ngành gồm lãnh đạo các đơn vị Cục Điều tiết điện lực, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp, Vụ Pháp chế, Thanh tra Bộ, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Dầu khí và than. Tại Công điện số 517/CĐ-TTg ngày 6/6/2023 về việc thực hiện các giải pháp bảo đảm cung ứng điện mùa khô năm 2023 và thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo thành lập Đoàn thanh tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật về quản lý và cung ứng điện của EVN từ ngày 1/1/2021 đến ngày 1/6/2023. Bộ trưởng Công Thương đã yêu cầu Đoàn thanh tra khẩn trương làm việc trong vòng 1 tháng, kể cả ngày nghỉ.

kinh doanh nội dung số